Wednesday, 2 July 2014

Màu hoa đỏ

TTO - Khi một người bạn Pháp hỏi tôi “Tại sao đất nước Việt Nam còn lạc hậu, con người Việt Nam nhỏ bé lại có thể đánh bại được người Pháp và người Mỹ”, tôi trả lời “Chúng tôi thắng họ không phải vì sức mạnh của vũ khí hiện đại mà bằng ý chí, bằng tinh thần thép không mệt mỏi của cả một dân tộc trong cuộc trường chinh dài ngót trăm năm”.

Tôi sinh ra trên một mảnh đất trung du đất cằn sỏi đá. Thái Nguyên, cái tên dễ làm gợi cho người ta nhớ đến những đồi chè ngút ngàn xanh mướt, những rừng cọ tán rợp bóng che đặc trưng của miền Trung du Bắc bộ. Vâng có lẽ chỉ có những cây cọ và chè mới sống nổi trên những triền đồi đá gan trâu bạc mầu này. Hạt gạo làm ra là công sức của cả một năm cày bừa tát nước lên những thửa ruộng bậc thang cao chơi vơi lưng chừng đồi. Bởi lẽ đó mà hạt gạo quê tôi quý lắm, quý đến nỗi mỗi lần ăn cơm mà tôi để rơi xuống mâm một hạt thôi là bà nội bắt nhặt lên ăn cho bằng hết.

Căn nhà của tuổi thơ tôi là một căn nhà lợp bằng lá cọ có năm gian. Lá cọ đã cũ kĩ và bị năm tháng, gió mưa bào mòn đến bạc trắng như tóc bà vậy. Đây là căn nhà bà đã sống từ thời còn con gái đến nay. Trên chiếc cột lớn chính giữa nha có treo một chiếc đòn gánh và một chiếc bình gốm không có men đã xạm màu thời gian. Thủa nhỏ tôi rất ngạc nhiên tại sao cứ mỗi tháng ba đến khi mùa hoa gạo nở đỏ rực trên nền trời bà lại mang chiếc bình và cái đòn gánh xuống lau chùi rất kĩ lưỡng. Ánh mắt bà lúc đó như lạc về một nơi rất xa. Với sự tò mò của một đứa trẻ, đã bao lần tôi hỏi bà về chúng, và rồi một ngày tháng 3 se lạnh khi tôi sắp tròn 9 tuổi bà đã kể cho tôi nghe về sự tích của cái bình và chiếc quang gánh đồng thời cũng là chuyện tình của ông bà. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến ba chữ Điện Biên Phủ.

Gần 40 năm trước bà là cô thiếu nữ xinh gái nhất làng, bà và ông ở cạnh nhà nhau và đã chơi với nhau từ lúc còn để chỏm. Bà thương ông vì hiền lành và chăm chỉ. Mẹ mất từ nhỏ, một mình ông phải giúp bố chăm hai đứa em còn nhỏ rất chu đáo. Làng nằm trong vùng căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, đêm đêm ông bà cùng nhau đi học lớp bình dân học vụ, sáng sáng cùng nhau đi gánh nước ở giếng làng, chiều chiều cùng nhau đi cấy ruộng bậc thang hoặc đi tập cùng đội dân quân xã. Hai gia đình cũng thân nhau lắm, tết năm đó các cụ đã hứa với nhau là bao giờ đông hết, hoa gạo nở thì cho hai đứa trẻ thành đôi.

Thế rồi một sự kiện đã làm thay đổi cả vận mệnh của một đất nước. Sự kiện đó cũng làm thay đổi luôn cuộc đời của ông bà. Và ngày nay chúng ta ai cũng biết tới nó với cái tên đầy tự hào: Điện Biên Phủ. Nhưng có ai biết để có một chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu này không chỉ mồ hôi và cả máu của một thế hệ mà còn có biết bao nước mắt và sự hi sinh thầm lặng cả tuổi trẻ và hạnh phúc riêng tư.

Ngày đó cả nước nô nức chuẩn bị cho trận đánh lớn giữa ta và Pháp. Mọi sức người sức của đều dồn cho mặt trận. Không ai biết trận đánh lớn đó là ở đâu nhưng ai cũng biết nó sắp diễn ra và ai cũng có trách nhiệm góp một phần gì đó cho chiến thắng chung. Chiếc bình gốm mà tôi nhắc đến ở trên thủa đó nhà nào cũng có. Nó được treo ở đầu mỗi căn nhà để mỗi bữa ăn, mọi người lại bốc một vài nắm cho vào đó. Câu thơ “cái thời hạt gạo chia ba, một phần ở lại hai ra chiến trường” đã nói lên một cách đầy đủ nhất những hi sinh của người dân quê tôi lúc đó. Hạt gạo khó lắm mới làm ra được trên những mảnh ruộng bậc thang quanh năm thiếu nước. Nhưng chiến trường đang kêu gọi, ý chí của cả nước như thể đốt cháy được cả dãy Trường Sơn, tất cả phải hi sinh cho tiền tuyến.

Không chỉ sức vật chất mà cả con người cũng dồn cả cho trận quyết chiến của cả dân tộc. Ông tôi là một trong những người đầu tiên xung phong vào bộ đội chủ lực mùa xuân năm 1952 để chuẩn bị cho Điện Biên Phủ. Ông đi để lại lời hẹn ước cưới bà vào mùa xuân năm đó. “Hạnh phúc của cá nhân phải hi sinh vì dân tộc em à. Nước mất thì nhà cũng tan” đó là câu nói cuối cùng ngày ông nhập ngũ. Kỉ vật của ông để lại cho bà là chiếc đòn gánh ông đã bao ngày cùng bà đi gánh nước ở ao làng, nó mang bao kỉ niệm mỗi sáng ông bà cùng đặt ngang hai hòn đá để nghỉ mệt lúc đường xa. Cũng chính chiếc đòn gánh đó mấy mùa liền ông dùng để chọc bông gạo đỏ rực tặng bà. Những nhụy hoa gạo trắng như bông được bà phơi cất cẩn thận làm thành chiếc gối đôi cho ngày cưới hai người. Chiếc gối đó bây giờ bà vẫn dùng nhưng ông thì chưa một lần. Ngày ông đi, bà dốc hết bình gạo đầu nhà vào bao ruột tượng quàng vào vai ông.

Chiến sự ngày càng ác liệt, Điện Biên Phủ đã chính thức được hai phía coi là trận giao chiến cuối cùng quyết định cục diện chiến tranh. Những người trai trẻ trong làng đã ra chiến trường gần hết. Chỉ còn phụ nữ lo cả việc đồng áng, gia đình. Nhưng không vì vậy mà bình gạo đầu nhà vơi đi, trái lại nó còn đầy hơn vì một lẽ đơn giản “các anh ngoài mặt trận đối diện với làn tên mũi đạn phải ăn no mới đánh được giặc”.

Lại một mùa hoa gạo nở đỏ rực năm 1953, không biết tại chiến trường đang kêu gọi lương thực đạn dược hay tại một niềm tin vô hình, bà có thể gặp được ông giữa Tây Bắc. Bà nhất định nằng nặc thuyết phục gia đình cho đi dân công hỏa tuyến mặc dù bà thuộc diện được miễn nghĩa vụ do có hai anh đã đi bộ đội lại còn bố mẹ già. Thương con, các cụ cũng đồng ý. Vào một ngày tháng ba sau ngày ông đi một năm. Bà cũng lên đường đi Tây Bắc theo đoàn dân công hàng vạn người trên vai là chiếc đòn gánh năm xưa với 25 cân gạo.

Bà nói đúng là chỉ có đi rồi mới biết những gian khổ của đường lên Tây Bắc, một người dân công đi gánh theo 25 cân gạo có khi chỉ một cân đến được tay bộ đội, số còn lại thì phải làm lương ăn dọc đường. Biết thế nhưng vẫn phải đi vì một hạt đến tay các anh cũng là quý và hơn hết vì một niềm tin cháy bỏng: Bà sẽ gặp được ông. Nghe nói ông ơ trung đoàn 207 thuộc đại đoàn 308 cũng tham gia trận Điện Biên Phủ.

Thử thách đầu đời với một cô gái trẻ như bà thủa đó là một tai nạn tại chân đèo Pha Đin. Do hai cô bạn dân công cùng đi mải hái hoa ban trắng bên bờ suối không chú ý đây là khu vực nguy hiểm có mìn. Một tiếng nổ thanh và nhỏ của trái mìn bướm vang lên, hai cô chết trước mặt bà. Bà khóc 3 đêm liền tưởng không thể đi nổi, nhưng chính hình ảnh của ông đã thôi thúc bà cất bước. Đi đâu bà cũng hỏi thăm, cứ gặp một đơn vị chủ lực nào bà cũng nằng nặc cho gặp một người chỉ huy dù cấp thấp hay cao để hỏi tin về ông.

Kể từ đó bà còn theo đoàn dân công lên Điện Biên hai lần nữa nhưng không lần nào hỏi thăm được tin tức gì về ông. Ngày 13 tháng 3 năm 1953, súng quân ta đã nổ, dội bão lửa xuống đầu quân thù. Suốt 54 ngày chiến dịch là 54 ngày bà ăn ngủ không yên. Tin tức chiến thắng dồn dập báo về qua loa phát thanh treo ở cây gạo đầu làng. Cả tin những thương vong, những khó khăn hi sinh của quân ta khi đánh đồi A1, C1... thỉnh thoảng trong giấc ngủ bà lại giật mình tỉnh giấc vì biết giờ này ông đang cùng đồng đội đối mặt giữa sự sống và cái chết. Mỗi ngày dài dường như bất tận.

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, “Chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”, ý chí của cả một dân tộc đã đè bẹp quân đội viễn chinh Pháp, đè bẹp cái gọi là “Pháo đài không thể xâm phạm” của Nava. Trong đoàn quân chiến thắng trở về không có ông. Lúc này bà sắp sinh bố tôi, hàng đêm bà ôm chiếc gối làm từ hoa gạo ông đã tặng ngày nào khóc. Từng người, từng người lính trở về làng mang theo chiến thắng, nụ cười, những vết thương và cả cơ thể có khi không còn lành lặn. Nhưng dẫu sao thì họ cũng đã về còn ông tôi thì không. Họ kể ông đã một mình dũng cảm ôm khẩu trung liên bắn chặn cho cả đại đội rút lui khi địch phản kích tại sân bay Mường Thanh. Ông đi bỏ lại bà với đứa con trong bụng và cả tuổi xuân xanh chưa tròn hạnh phúc.

Tháng 10 năm đó bố tôi ra đời, bố thậm chí còn chưa biết mặt ông vì ông không để lại một tấm hình nào. Bà ở vậy nuôi con trong căn nhà xưa trên mảnh đồi trung du cằn cỗi. Tôi cũng lớn lên trong căn nhà đó dưới bàn tay chăm sóc của bà. Sau Điện Biên Phủ rồi đến kháng chiến chống Mỹ vẫn một tay bà làm lụng đổ đầy bình gạo góp nuôi bộ đội. Nếu hành trình đi tìm tự do của đất nước là một cuộc trường chinh đầy vinh quang và tự hào thì tôi chắc chắn nó được làm nên không chỉ bằng xương máu của biết bao thế hệ mà còn bằng những sự hi sinh thầm lặng của biết bao con người nhỏ bé như bà tôi. Cuộc đời bà cũng là một cuộc trường chinh.

Sau này lớn lên, tôi có dịp đặt chân lên khắp các nẻo đường đất nước từ đường Trường Sơn đến địa đạo Củ Chi, từ Thành Cổ Quảng Trị đến Điện Biên Phủ nơi ông tôi hi sinh. Bất cứ nơi nào cũng mang dấu ấn về cuộc đấu tranh không mệt mỏi để giành lại độc lập tự do của cha ông. Mỗi khi bạn bè nước ngoài hỏi tôi rằng cái gì làm nên đặc trưng của con người Việt Nam, tôi hoàn toàn tự hào trả lời với họ đó là một “Tinh thần thép” lúc nào cũng cháy rực như màu hoa gạo đỏ lửa trên bầu trời tháng ba, những bông hoa vươn lên trên cành cây khẳng khiu trụi lá để tỏa sắc đỏ xua tan đi cái giá lạnh mùa đông. Dẫu cuộc hành trình đi tìm tự do của cha ông hay cuộc hành trình xây dựng một thế đứng Việt Nam hôm nay, tôi vẫn tin mỗi người Việt Nam vẫn có một ngọn lửa quyết tâm của con Lạc cháu Hồng có thể cùng nhau làm được tất cả. Vâng, di sản tinh thần bất diệt đó là hành trang lớn nhất cho tôi trong cuộc sống hôm nay và mai sau. Một màu hoa đỏ không bao giờ tắt.

No comments:

Post a Comment